Chuyển đến nội dung chính

Viêm khớp tự phát thiếu niên

Nguyên nhân gây bệnh viêm khớp tự phát thiếu niên chưa được rõ ràng, tuy nhiên người ta cho rằng bệnh có tính chất tự miễn với tình trạng nhiễm khuẩn làm khởi động một loạt các quá trình trong hệ thống miễn dịch. Bệnh thường khởi phát sau nhiễm virut, Chlamydia mycoplasma, Streptococus, Salmonella, Shigella…


Các thể viêm khớp tự phát thiếu niên


Các thể bệnh của viêm khớp tự phát sẽ xuất hiện theo từng lứa tuổi với các biểu hiện ở khớp thường xuất hiện khi có các tổn thương ở da.

Thể hệ thống hay còn gọi là thể Still ở trẻ em: các triệu chứng là sốt cao, nổi ban màu hồng ở da và viêm khớp. Tổn thương khớp theo từng đợt, ít nhất tồn tại trong 2 tuần, sau đó thường biến mất. Trẻ thường sốt cao (39-40 độ C), sau đó tự hạ nhiệt về bình thường.

Tổn thương ở khớp thường gặp ở khớp vừa và khớp lớn, nhất là khớp gối, sau đó đến khớp cổ tay, khớp bàn ngón tay, khớp cổ chân,… Các tổn thương khác như tổn thương nội tạng (gan lách hạc to, viêm màng ngoài tim hoặc viêm các thanh mạc khác), đau ngực, khó thở…

Thể một hay vài khớp: đặc trưng bởi đặc điểm khởi phát dưới 4 khớp tổn thương. Nếu số khớp viêm không tăng, tức là vẫn dưới 4 khớp sau 6 tháng đầu mắc bệnh thì xếp vào nhóm viêm khớp dai dẳng. Trường hợp sau 6 tháng đầu bị bệnh số khớp viêm tăng từ 5 khớp trở lên thì xếp vào nhóm viêm khớp mở rộng. đông y điều trị tràn dịch khớp gối http://coxuongkhoppcc.com/chua-tran-dich-khop-goi-bang-dong-y.html

Thể điển hình gặp ở bé gái từ 2-5 tuổi (3 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất), bé trai mắc bệnh nhiều hơn bé gái). Các khớp thương tổn thường là khớp gối, cổ chân, khuỷu, cổ tay, các khớp nhỏ ở bàn tay, bàn chân, viêm khớp không đối xứng.



Viêm nhiều khớp yếu tố dạng thấp âm tính: tỉ lệ mắc bệnh ở nam gặp nhiều hơn nữ, có thể gặp ở nhiều lứa tuổi, tuy nhiên phổ biến ở trẻ trên 10 tuổi. Biểu hiện viêm từ 5 khớp trở lên trong vòng 6 tháng đầu bị bệnh. Các khớp viêm thường gặp như khớp gối, cổ tay, bàn ngón tay, cổ chân,…

Viêm nhiều khớp yếu tố dạng thấp dương tính: bệnh cũng hay gặp ở bé gái trên 10 tuổi, các biểu hiện viêm khớp giống như bệnh viêm khớp dạng thấp ở người lớn. Viêm các khớp nhỏ và nhỡ có tính chất đối xứng, người bệnh thường cứng khớp vào buổi sáng sau khi thức dậy. Đôi khi có biểu hiện ngoài khớp như hạt dưới da, viêm mạch. Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh dễ để lại di chứng biến dạng và phá hủy khớp nặng.

Viêm khớp thể viêm nhiều điểm bám tận: bệnh thường gặp ở trẻ từ 12 – 16 tuổi, tỷ lệ nam mắc bệnh cao hơn nữ. Các khớp viêm như khớp háng, gối, cổ chân hay các khớp nhỏ, khớp không đối xứng. Những biểu hiện ở cột sống thường xuất hiện sau khi có biểu hiện viêm các khớp ở chi dưới. Tổn thương ngoài khớp thường gặp ở mắt là viêm mống mắt cấp tính. Thể này tiến triển nhanh, dẫn đến dính khớp gây tàn phế.

Viêm khớp vảy nến: thường xuất hiện ở lứa tuổi 7-11 với các biểu hiện tổn thương ở khớp. Viêm ở cả khớp lớn và khớp nhỏ, các khớp viêm không đối xứng, tổn thương nặng nhất ở khớp gối.

Triệu chứng ngón tay, chân hình “khúc dồi” và những tổn thương lõm hoặc bong ở móng tay, chân là những triệu chứng quan trọng để chẩn đoán bệnh. Tổn thương khớp tuy nhẹ nhưng cũng có những người hợp gây teo cơ, biến dạng khớp.

Hy vọng những kiến thức được chia sẻ trong bài viết có thể giúp cho bạn đọc có cái nhìn tích cực hơn và có những phương pháp tốt nhất để bảo vệ sức khỏe cho bản thân và gia đình. Chúc bạn đọc có thời gian thật ý nghĩa và vui vẻ.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Chữa thoái hóa khớp bằng gạo lứt rang

Theo dân gian, để chữa thoái hóa khớp, một trong những phương pháp đơn giản nhất chính là sử dụng gạo lứt hàng ngày. Ngoài việc điều trị chuyên sâu, người bệnh cần bổ sung bột gạo lứt rang vào khẩu phần ăn để hỗ trợ quá trình chữa bệnh Không chỉ trong y học hiện đại, y học cổ truyền cũng công nhận tác dụng tuyệt với của gạo lứt đối với cơ thể. Các thầy thuốc cho biết, gạo lứt có tác dụng kiện tỳ, ích khí, hỗ trợ các hoạt động ở hệ tiêu hóa và tăng cường khí lực. Những người suy nhược, yếu ớt, không đủ khí lực nếu được cho sử dụng gạo lứt thường xuyên sẽ giúp bồi bổ cơ thể trở nên mạnh khỏe hơn và vận động hiệu quả hơn.  Gạo lức còn có khả năng giảm thiểu lượng đường và cholesterol trong máu, hỗ trợ quá trình lưu thông nên máu nên rất tốt với những người đang gặp vấn đề về tim mạch, chuyển hóa. Đối với người bệnh thoái hóa khớp, kết hợp điều trị bằng thuốc men, tri liệu với chế độ ăn uống hợp lý có thành phần gạo lứt rang sẽ mang đến hiệu quả cao. Kinh nghiệm d...

Kết xương trong gãy xương cánh tay

Kết xương trong gãy xương cánh tay xảy ra có thể do chấn thương trực tiếp khi vật cứng đập vào làm gãy xương hoặc khi ngã chống tay xuống đất. Bệnh nhân nếu không được cứu chữa kịp thời có khả năng mắc nhiều biến chứng liệt dây thần kinh quay, thương tổn động mạch cánh tay, hạn chế vận động. Có nhiều phương pháp điều trị gãy xương cánh tay được áp dụng tuỳ theo từng loại gãy và tuổi bệnh nhân, điều trị bảo tồn được áp dụng cho các gãy xương không di lệch hoặc ít di lệch và vững. Khoảng 75% các gãy đầu trên xương cánh tay là ít di lệch và có thể điều trị bằng bảo tồn, tuy nhiên gãy trật và mất vững gãy xương hở, gãy vụn thì cần được phẫu thuật nắn lại các mặt gãy, bất động đủ vững chắc để tập vận động sớm khớp vai. Cố định ngoài Chỉ định trong gãy hở, có khiếm khuyết da và phần mềm, các gãy vụn nhiều mảnh ở bệnh nhân có nhu cầu vận động sớm, các bệnh nhân gãy thân xương kèm tổn thương bỏng ở vùng khác cần lấy da để ghép, hoặc ở bệnh nhân có kèm gãy xương cẳng tay cùng bên. ...

Tìm hiểu chung về hệ xương là gì ?

Xương hỗ trợ và bảo vệ các cơ quan khác trong cơ thể. Xương giúp sản sinh tế bào hồng cầu và bạch cầu, dự trữ chất khoáng và giúp cơ thể chuyển động. Cơ thể người khi sinh ra có 270 xương. Tuy nhiên, rất nhiều trong số đó sẽ liên kết với nhau trong suốt quá trình phát triển và tiến hóa.  Đến khi trưởng thành, cơ thể sẽ có 206 xương khác nhau, không tính đến một số lượng lớn các xương vừng nhỏ. Xương lớn nhất trong cơ thể là xương đùi và xương nhỏ nhất là xương bàn đạp trong lỗ tai giữa. Cấu trúc của hệ xương . Xương được cấu tạo chính từ màn xương (lớp bên ngoài), xương xốp (lớp bên trong) và tủy: Màn xương, còn gọi là xương đặc, bảo vệ lớp xương xốp khỏi áp lực từ bên ngoài. Nó chiếm 80% khối lượng xương, thường rất dày, chắc và cứng; Xương xốp, hay còn gọi là các bè xương, là lớp bên trong của xương và không dày đặc như vỏ xương. Nó được hình thành bởi sợi xương, một dạng cấu trúc có khả năng tạo màng; Tủy xương, hay còn gọi là mô tủy, được tìm thấy ở hầu...